Thứ bảy, ngày 05 tháng mười một năm 2011

49 - Trạch Hỏa Cách

KINH DỊCH - ĐẠO CỦA NGƯỜI THÀNH ĐẠT
易經-秘訣顯達 越南版 民忠之子鄭孟勇新编













Dịch là bất dịch, TRIZ
tạo dựng sự khác biệt, cách mạng,
vòng xoắn đi lên, thay đổi về chất,
Đa dạng, phát triển, nghiên cứu
R&D.


THOÁN TỪ
Dịch: Quẻ Cách, thay cũ đổi mới, phải có thời gian cho người ta tin. Thuận lợi lớn. Hợp chính đạo thì không hối hận.

革,已日,乃孚,元吉,利貞。悔亡。Cách, dĩ nhật, nãi phu, nguyên hanh, lợi trinh, hối vong.

Luận: Quẻ Cách bao hàm chuyển hóa, thay đổi, cải cách, cách tân, cách mạng, sáng tạo nhằm tạo dựng ra sự khác biệt về chất trong quá trình phát triển đi lên.

Quẻ gồm ngoại quái là Đoài noùi theo gioïng cuûa Hoà Xuaân Höông thì ñoù laø “deâ coõn buoàn söøng huùc daäu thöa”, laø loøng nhieät tình cuûa thieáu nöõ, vaø noäi quaùi Ly là ngọn lửa của trí tuệ. Sự kết hợp trí tuệ cộng với nhiệt tình của tuổi trẻ chuyển hóa thành sáng tạo. Đối với một doanh nghiệp, câu khẩu hiệu chiến lược quan trọng nhất bảo đảm cho sự phát triển trường tồn của nó là “sáng tạo hay là chết”.

Creativity Quotient - CQ - là năng lực SÁNG TẠO. Không chỉ là học hỏi, SÁNG TẠO là ưu thế cạnh tranh đặc biệt trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay. Dĩ bất biến ứng vạn biến, xoay quanh mục tiêu chủ đạo tối thượng và hành động không ngơi nghỉ để tìm ra giải pháp thích hợp nhất và hiệu quả nhất. SÁNG TẠO là nguồn lực vĩ đại và vô tận của nhân loại và của mỗi người trong chúng ta tạo nên lợi thế cạnh tranh không gì thay thế nổi dựa trên trí tuệ và đổi mới.

Sáng tạo là sản phẩm của tư duy. Tư duy là sự suy nghĩ của một cá nhân. Bản thân chữ tư duy đã hàm ý riêng tư rồi. Cũng giống như, không có cái gọi là trách nhiệm tập thể, dân dã nói là “cha chung không ai khóc”, tức là không có trách nhiệm. Chỉ có một loại trách niệm đó là trách nhiệm cá nhân. Tương tự, không có sáng tạo tập thể, chỉ có sáng tạo cá nhân.

Sáng tạo được hiểu là mình làm mình chịu trách nhiệm cho hành động của mình. Trong cuộc sống, chính người chịu trách nhiệm hiện thực hóa mới là người sáng tạo. Đề xuất cho người khác làm nhưng bản thân mình không chịu trách nhiệm về đề xuất của mình thì đó chưa phải là sáng tạo. Đề xuất được hiểu là xúi bẩy, đề xuất dẫn đến thất bại là xui dại. Mặt khác, người biết dùng uy tín và trách nhiệm cá nhân của mình để ủng hộ một sáng tạo cũng là sáng tạo.

Một cách diễn giải khác, nội quái là Ly trả lời câu hỏi ta là ai, Ly là trí thức. Ngoại quái là Đoài trả lời câu hỏi ta làm gì, Đoài là nhiệt tình, vậy có thể hiểu là phải có đủ bản lãnh cách mạng như của Đoài thì mới hiện thực hóa được ý tưởng của người trí thức. Thiếu bản lãnh để hiện thực hóa thì dù cho thừa ý tưởng thì những ý tưởng sẽ mãi mãi vẫn chỉ dừng lại là ý tưởng.

Dân chủ là một bảo đảm để người lãnh đạo buộc phải tuân theo lẽ phải, tôn trọng và học hỏi ý kiến sáng tạo của thuộc cấp hay quần chúng. Bản quyền là để đảm bảo quyền lợi của thuộc cấp hay quần chúng để họ an tâm công bố những phát minh hay sáng chế của mình. Dân chủ và bản quyền là hai vế của cùng một vấn đề đều nhằm đưa sáng tạo từ xã hội trở lại với cuộc sống.

Một cách hiểu khác, muốn có một cuộc cách mạng tức là muốn tạo ra thay đổi về chất, phải tạo dựng sự đa dạng, muốn đa dạng phải sáng tạo, hoặc là biết chấp nhận sự sáng tạo, hoặc là biết chấp nhận sự khác biệt trong cách sáng tạo của người khác và chung sống với nhau trong dị biệt.

Sáng tạo là hoạt động tạo ra bất kỳ cái gì mang trong nó đồng thời tính mới và tính ích lợi. Như vậy khi có đưa ra một cái mới khác biệt với cái cũ nhưng vô ích thì chắc chắn đấy không phải là sáng tạo. Sáng tạo là động lực cho phát triển.

Trong kinh doanh, khác nhau về lượng dù nhiều cũng chưa phải là khác nhau, không tạo nên sự đa dạng. Khác biệt đủ để tạo nên sự đa dạng phải là khác nhau về chất.

Không thể sống khỏe mãi chỉ bằng một chiêu sở trường của mình bởi vì: “Sở trường ở đâu sở đoản ở đo”. Không thể làm giàu với một chiêu thức hay một sản phẩm không đổi. Muốn phát triển bền vững trong môi trường xã hội phải biết cách đa dạng hóa các hoạt động của mình.

Cách mạng bắt đầu trước hết bằng đổi mới trong tư duy. Trong năm 1905, khi gửi 5 bài báo cho Annalen der Physik một tạp chí danh tiếng, Albert Einstein còn là một người vô danh tiểu tốt. Khi xem xét những vấn đề mà ông đề xuất: “Kết cấu thực sự của đường cong không gian và thời gian”, chúng ta không khỏi tự hỏi liệu những “thí nghiệm của ý nghĩ” này sẽ đi về đâu khi mà không có một chú thích hoặc lời giới thiệu nào của những “cây đa cây đề” nào cho chúng.

Lô gích hình thức chỉ đáp ứng lý tính của chúng ta như một khoa học hiển ngôn bàn về chân nguy của những phạm trù mà lý tính kiểm chứng được. Albert Einstein đã tìm ra một học thuyết hết sức thâm viên gọi là thuyết tương đối hẹp và rộng mà để hiểu được chúng, dù chỉ là tí chút nào đấy, đòi hỏi chúng ta phải đảo lộn mọi lô gích thông thường.

Không cần bàn về tính cách mạng trong những bài báo chấn động thế giới của Albert Einstein nữa, sự diệu dụng nằm ngay trong tay ban biên tập Annalen der Physik. Họ chính là nguyên mẫu dạy cho chúng ta hiểu ra rằng: Phải biết cách suy nghĩ không chỉ một chiều, không chỉ nghĩ theo chiều thuận mà còn biết nhìn nhận vấn đề theo chiều ngang và cả chiều nghịch nữa.

Sự chối bỏ lô gích thông thường để tiếp cận với những chân lý tưởng chừng siêu nghiệm đang tồn tại hiển nhiên trên thế giới này. Theo Einstein: “Trí tưởng tượng quan trọng hơn cả sự hiểu biết. Nhưng điều quan trọng hơn cả là đừng bao giờ ngưng đặt ra những câu hỏi.”

Khổng Tử không thích những đổi thay mang tính lật đổ. Ông cho rằng như thế là phá hoại, gây xáo trộn xã hội, không trung quân ái quốc 忠君愛國. Ông thích đổi mới hay cải cách, đó là những biến đổi từ từ, từ trên xuống và không muốn dùng sức mạnh bạo lực từ dưới lên, hay từ bên ngoài vào để lật đổ chế độ.

Cách mạng không đồng nghĩa là bạo lực. Trong sinh giới, quá trình tiến hóa diễn ra một cách từ từ. Tuy các loài mới khác biệt về chất với các loài gốc đến mức giữa chúng không thể phối giống với nhau được nữa và đó là một quá trình biến dị và thích nghi dài lâu.

Trong xã hội, những cuộc cách mạng lớn trong đổi mới tư duy, trong khoa học kỹ thuật và công nghệ đã xảy ra mà không mang tính bạo lực. Xung đột bạo lực chỉ xảy ra khi thay đổi về chất không theo kịp những thay đổi về lượng. Khi những cải cách hay đổi mới không tiến kịp để đáp ứng được những nhu cầu hình thành mới trong quá trình phát triển thì mới tích lũy mâu thuẫn làm tạo ra xung đột mang tính bạo lực.

Quân tử dụng ngôn, tiểu nhân dụng sức. Khi người ta có thể hiệp thương bằng ngôn từ thì không cần giải quyết bằng sức mạnh. Khi không thể nói chuyện được với nhau thì mới phải dùng nắm đấm. Binh pháp Tôn Tử viết: “Đánh mà thắng là hạ sách, không đánh mà thắng mới là thượng sách.”

Lời tượng: Trong đầm có lửa, nhiệt tình mà trí tuệ, đó là hình tượng của quẻ Cách. Người quân tử theo đó mà chỉnh đốn lịch pháp để làm rõ bốn mùa. 象曰:澤中有火,革.君子以治歷明時. Tượng viết: Trạch trung hữu hỏa, cách. Quân tử dĩ trị lịch minh thời. Lịch歷=曆= Lịch pháp 曆法 - tính năm tháng theo vòng quay của mặt trời mặt trăng. Vì kiêng tên vua Cao Tôn 高宗nhà Thanh là "Lịch" nên sau cứ viết là . Thời Mùa, mùa vụ, thì, thời cơ, cơ hội.

Luận: Lịch pháp 歷法cơ sở, là gốc của các cái gốc, vậy mà lời tượng còn khuyên chỉnh đốn cả lịch pháp, vậy chẳng phải là gợi ý cho phép chỉnh lý sửa sang lại cả những cơ sở lý luận gốc cho phù hợp với thực tiễn hay sao.

Điều bất biến duy nhất của thế giới này là nó luôn biến đổi. Kinh Dịch viết: “Dịch là bất dịch”, Karl Marx viết: “Vận động là quy luật của vật chất”. Hai cách viết cùng để biểu thị một ý: Phàm là tạo vật sinh ra không có gì là không biến đổi cả.

Viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất bản ở New York năm 2000, William J. Duiker viết: Nguyễn Ái Quốc nhận định rằng ở Việt Nam “cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”, và chỉ ra rằng “quyền lực của quan lại được cân bằng với tính tự trị của xã thôn”. “Đây là một nghịch lý táo bạo, nhưng lại là một thực tế tuyệt vời”. Từ sự phân tích đặc điểm cụ thể của xã hội nước mình, và để cho “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó”, Nguyễn Ái Quốc cho rằng “dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”. Người lập luận: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu, mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Vì thế, theo Người, phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”.

Có nhìn lại địa điểm, thời gian và bầu không khí chính trị trong bối cảnh ấy mới thấy hết được tầm vóc của dòng tư duy táo bạo nói trên và bản lĩnh của người thanh niên yêu nước đang bước đầu tự vũ trang cho mình học thuyết cách mạng của Mác. Với tầm mắt ấy, bản lĩnh ấy, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành Hồ Chí Minh.

Lượng đổi làm chất đổi. Những thay đổi về lượng diễn ra liên tục, nhưng sự thay đổi về chất không diễn ra liên tục và không diễn ra đồng thời. Những thay đổi về lượng phải đạt giá trị nhất định gọi là giá trị tới hạn mới xảy ra việc lượng đổi thành chất. Người xưa dùng hình tượng “vũ môn” để chỉ cái giá trị tới hạn phải vượt qua. “Cá chép” muốn hoá “rồng” phải vượt qua “vũ môn” thì mới trở thành “rồng” được.

Phát triển có thể là những đổi mới hay cải cách khi bao gồm những thay đổi về lượng. Phát triển có thể mang tính cách mạng khi bao gồm những thay đổi về chất. Muốn cạnh tranh thành công phải có những ưu thế vượt trội về chất so với đối thủ. Và ngược lại, muốn đuổi kịp đối thủ cạnh tranh cần tích luỹ những tiến bộ về lượng đủ để xóa đi những khác biệt về chất.












Phát triển là một đường xoắn ốc liên tục đi lên. Từ HỌC & TẬP đến Lập thân là giao đoạn trì trệ. Từ Lập thân đến Thành Đạt là giai đoạn lũy tiến. Từ Thành Đạt đến HỢP TÁC là giai đoạn bão hòa.

Khi nhìn ngang từ bên ngoài vào sẽ thấy hình chiếu của phát triển là đường zíc zắc, đó là hình chữ S cách điệu. Trên những đoạn phát triển đi lên thuộc phía bên kia của xoắn ốc, nhìn trên hình chiếu sẽ cho thấy dường như là đổi chiều, có thể việc đổi chiều đó là sự trở lại của các giá trị truyền thống và mỗi lần đổi chiều là một bước ngoặt hay còn gọi là điểm uốn chiến lược. Trong quá trình phát triển có bốn điểm uốn chiến lược chính: THÀNH, THỊNH, SUY, HỦY. Tại các vị trí đó diễn ra việc lượng đổi thành chất.

Đó là thời điểm mà công ty phải thay đổi lộ trình của mình, tự thích nghi với hoàn cảnh mới, nếu không thì nó sẽ đứng trước nguy cơ suy thoái. Andy Grove, TGĐ Intel, cho rằng: “Tại một điểm uốn chiến lược, phương thức hoạt động của công ty, bản thân cấu trúc và quan niệm kinh doanh đang chịu sự thay đổi. Nhưng điều trớ trêu là ở ngay tại điểm uốn đó chúng ta không thấy có xáo trộn nhiều. Điểm tinh vi này cũng giống như một mắt bão. Không có chút gió nào tại mắt bão, nhưng khi mắt bão đi qua thì gió sẽ lại quất vào bạn ngay. Diễn biến tương tự cũng xảy ra ngay giữa giai đoạn chuyển đổi từ một khuôn mẫu kinh doanh này sang khuôn mẫu kinh doanh khác. Điều mỉa mai là cho dù những thay đổi này có thể sẽ đem đến thảm họa cho công việc kinh doanh thế mà chúng đều rất thường bị bỏ qua.”

Suy thoái chỉ xảy ra trong một hệ kín. Trong một hệ mở thì phát triển không có giai đoạn bão hòa. Trí tuệ trong một hệ kín khi phát triển đến tận cùng sẽ là giai đoạn bảo thủ. Nhưng khi phát triển trong hệ mở, trí tuệ sau giai đoạn sáng tạo sẽ chuyển sang giai đoạn sáng suốt. Đến một trình độ nhất định của trí tuệ thì việc trau dồi lý luận và tự hoàn thiện sẽ phải là không ngơi nghỉ. Đó là sự khởi điểm cho đổi mới, là sự hưng thịnh ở tầng mức cao hơn trên cơ sở kế thừa truyền thống.

Trong một hệ mở thì bốn điểm uốn chiến lược sẽ là THÀNH, THỊNH, SUY, ĐỔI.

Thành công tức là đang thụ hưởng thành quả của quá khứ. Cây cối qua một mùa đông khi xuân đến có một sức bật đặc biệt. Tốc độ mọc khi đó có thể nhìn thấy được bằng mắt mỗi ngày. Bạn đừng ngạc nhiên nếu ai đó, hoặc cũng có thể là chính bạn, thành công rực rỡ nhưng lại không phải là trong chuyên ngành được học tập đào tạo rất nghiêm chỉnh. Có rất nhiều người đã “tái phát hiện” chính mình như thế.

TRIZ là lý thuyết giải các bài toán sáng chế, được phiên âm viết tắt theo nguyên bản tiếng Nga (Теория Решения Изобретательских Задач). Đây là hệ thống các phương pháp và các kỹ năng cụ thể giúp những người sử dụng nâng cao năng suất và hiệu quả, về lâu dài, tiến tới điều khiển tư duy sáng tạo. TRIZ được xây dựng dựa trên các kiến thức tổng hợp của các ngành khoa học kỹ thuật, dạy và học được như các môn học truyền thống trong các nhà trường, bao gồm 40 nguyên tắc (hay là thủ thuật) cơ bản, 76 chuẩn, 11 phép hoán vị mẫu để khắc phục mâu thuẫn và đặc biệt là thuật toán ARIZ.

Tác giả phương pháp luận sáng tạo TRIZG.S. Altshuller viện sĩ, kỹ sư, nhà sáng chế Liên Xô gốc Do Thái, chủ tịch hội TRIZ toàn Liên bang Xô Viết. Hiện nay phương pháp luận sáng tạo TRIZ đã phát triển trên toàn thế giới. Ở Việt Nam TRIZ đã được đưa vào giảng dạy từ năm 1977 do Tiến sĩ Khoa học Phan Dũng hiện là Giám đốc TT Sáng Tạo KHKT sáng lập.

Trung tâm Sáng tạo Khoa học Kỹ thuật - TSK

Đại học Khoa học Tự nhiên, 227 Ng Văn Cừ, Tp.HCM

tel. (08) 38301743, e-mail: TSK@hcmuns.edu.vn

website: http://www.hcmuns.edu.vn/CSTC/home-v.htm

Biết đến TRIZ từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, người Mỹ nhanh chóng nhận thấy đây là “Công nghệ mới mang tính cách mạng được đưa vào nước Mỹ, và tin rằng điều này sẽ làm tăng vị thế cạnh tranh của nước Mỹ trong nền kinh tế đang xuất hiện mang tính toàn cầu dựa trên tri thức”.

Mặc dù TRIZ có nguồn gốc từ Liên bang Xô viết và trên thế giới có nhiều viện nghiên cứu trong lĩnh vực này nhưng Viện nghiên cứu duy nhất mang tên Altshuller (Altshuller Institute For TRIZ Studies, Inc.) lại nằm ở Mỹ. Viện ở tại Woodland Hills, California, nằm cách Los Angeles khoảng một giờ chạy xe về hướng tây bắc.

website: http://www.aitriz.org ; e-mail: ai@triz.org

Các thống kê cho thấy một người Mỹ trung bình đổi nghề 3 lần. Như vậy là cứ khoảng trên dưới 10 năm đổi nghề một lần. Một vận động viên đỉnh cao rất xuất sắc mới có thể duy trì đỉnh cao thành tích nhiều hơn 3 kỳ thế vận hội. Tương lai rồi ai cũng sẽ phải đổi nghề. Việc cần làm là đổi làm sao để có thể kế thừa, có thể phát huy, cũng có thể là để giảm bớt nhàm chán.

Điều này không phải là một an ủi nếu như bạn không thể theo mãi một nghề. Và nếu như bạn bị bế tắc thì cũng là bình thường. Đó cũng bình thường như chính cuộc sống nếu như ai đó chê là bạn chỉ thấy được cái hay cái dở đâu đó ở chỗ khác chứ còn chính trong lĩnh vực bạn giỏi nhất thì lại bị cạn kiệt sáng kiến. Chính cái lúc đang ngủ, những sáng kiến có giá trị như mơ mới xuất hiện. Những cái hay nhất có được nhiều khi là trong lúc nghỉ ngơi, lúc đi chơi, lúc bị khủng hoảng chứ không chắc đã là trong lúc đang thành công vượt bậc.

Nếu 10 năm không có gì thay đổi tức là đã có bế tắc trong sáng tạo. Nếu không có gì mới sau 10 năm làm việc thì phải hiểu ngay là mình đang đứng tại chỗ, không phát triển.

Dừng chân là trở thành lạc hậu.

Chiêm: Quẻ này có 2 hào tốt một hào xấu. ♦ Một càng xe còn mới, càng kia gãy – nếu bạn thay càng mới vào thì nên việc và thành danh. ♦ Con thỏ và con cọp – năm, tháng, ngày giờ Dần và Mẹo là tốt. ♦ Một người đẩy xe và người ngồi xe – chấm dứt một thời kỳ đen tối kéo dài. ♦ Một con đường thênh thang dẫn đi khắp nơi. ♦ Đây là quẻ tháng 2, tốt trong mùa đông, xấu trong mùa xuân và thu.

Hình: Báo biến thành cọp.豹變爲虎 Báo biến vi hổ.

Tượng: Thay cũ đổi mới.改舊從新Cải cựu tùng tân.

HÀO TỪ

1 . Học & tập: Dùng da bò vàng mà chuyển hóa.

初九。鞏用黃牛之革。Sơ cửu: Củng dụng hoàng ngưu chi cách. Củng lấy da buộc đồ. Bền chặt. Ràng buộc.

Luận: Hào này ở vào đầu của thời Cách, những nhân tố quyết định cho công cuộc cải cách còn mờ nhạt, chưa xác định và còn non yếu.

Sáng tạo không có nghĩa là bỏ tuốt tuồn tuột làm lại mới từ đầu nhưng cũng không thể cải cách mà chẳng thay đổi gì cả. Con không chê cha mẹ nghèo nhưng không thể chấp nhận mãi cảnh đói nghèo.

Trả lời phỏng vấn của Nathan Gardels: - … có phải xung đột kinh tế bắt nguồn từ những mâu thuẫn sâu sắc hơn giữa các nền văn hóa: văn hóa Khổng tử và chủ nghĩa cá nhân cực độ trong khái niệm tự do của phương Tây? Ông Lý Quang Diệu nĩi: “Như những gì đã diễn ra, các giá trị và thực tiễn mang tính công xã hơn tại Đông Á - Nhật Bản, Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Kông, và Singapore - chứng tỏ là tài sản của quá trình bắt kịp này. Các giá trị mà văn hóa Á Đông đề cao, như đặt lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân, hỗ trợ đáng kể cho những nỗ lực chung của cả xã hội trong việc đẩy nhanh phát triển. Nhưng tôi không thấy mâu thuẫn nào như ông miêu tả là sự cạnh tranh giữa hai hệ thống.”

“Singapore bị Anh cai trị nhưng, về cơ bản vẫn là xã hội mang đặc thù châu Á, vì thế, tôi có thể thấy những chuẩn mực Anh là như thế nào, và so sánh, đối chiếu với những chuẩn mực châu Á. Còn khi tôi học 4 năm tại Anh thì thấy người Anh xử xự và hành động hết sức cá nhân. Từng chịu ảnh hưởng của cả hai nền văn hóa, tôi hiểu được rằng, người ta không thể thay đổi những giá trị cốt lõi chỉ bằng việc tiếp xúc với nền văn hóa khác.”

Một sản phẩm gọi là sáng tạo thực ra chỉ có dưới một phần trăm là hoàn toàn mới. Thường thì 99% là kinh điển, là những thứ có thể học hỏi hoặc mua mà có được. Dùng cái có sẵn là đã có được 99%. Như vậy là, sáng tạo nằm ngay trong truyền thống và dựa trên cơ sở phát huy từ truyền thống. Sáng tạo không dựa trên truyền thống là mất gốc không thể tạo nên sức mạnh cho công cuộc đổi mới được.

Nhà sản xuất khi thiết kế một loại máy mới nên dựa trên các loại phụ tùng có sẵn trên thị trường. Nguyên tắc là chỉ tự nghiên cứu sản xuất chế tạo những thứ không thể mua được trên thị trường. Cái cần làm là gia tăng giá trị cho thiết bị bằng những cái mình chế tạo thêm. Chỉ được đầu tư cho nghiên cứu những thứ chưa ai phát minh hay sáng chế ra những thứ không thể mua.

Dùng cái có sẵn hiển nhiên không có nghĩa là tự giới hạn mình vào những thứ có ở ngay quanh mình. Trong thời đại toàn cầu hoá mọi thành tựu khoa học kỹ thuật cũng như khoa học quản lý một khi đã có sẵn ở đâu đó trên thế giới thì doanh nghiệp nhất thiết phải tìm cách tiếp cận và sử dụng sao cho có lợi nhất.

Một khi sử dụng được các công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới, doanh nghiệp không thể nào bị thua trong cuộc cạnh tranh toàn cầu hoá hiện nay. Hơn thế nữa, trong những thứ có sẵn mà doanh nghiệp nhất thiết phải sử dụng cho được đó là vốn. Tiền bao giờ cũng thiếu nhưng vốn thì bao giờ cũng thừa. Muốn sử dụng được vốn của thiên hạ thì phải hiểu được ngôn ngữ tài chính và biết cách làm việc với các định chế tài chính quốc tế.

2 . Lập thân: Qua bao nhiêu ngày mới thay đổi được, tiến tới rất thuận lợi, không mắc lỗi.

六二。已日,乃革之,征吉,旡咎。Lục nhị: Dĩ nhật, nãi cách chi, chinh cát, vô cữu.

Luận: Doanh nhân điển hình ngày nay nếu có thất bại trong sáng tạo thì đó không phải là điều sỉ nhục, điều đáng sỉ nhục lại chính là không dám sáng tạo.

Học hỏi là một đức tính tốt. Tuy nhiên khi đã ở vào vị trí tiên phong thì học hỏi không hẳn đã là tốt. Trong những tình huống mà sáng tạo nhiều khi dễ hơn học hỏi nhất là trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay.

Bởi vì không phải ai cũng có thể tự biết định hướng giống nhau, và không phải ai cũng hiểu cách đặt vấn đề một cách đúng đắn và dễ dàng như nhau, thêm nữa là không phải ai cũng có ngay cùng một giải pháp. Sự khác biệt trong sáng tạo trở thành ưu thế cạnh tranh và là yếu tố cạnh tranh quyết định nhất. Nếu bạn còn có ý muốn bắt chước người ta, muốn chạy theo số đông, đi theo phong trào, tức là bạn đang tự mình làm mất đi tính cạnh tranh của bạn.

Sáng tạo càng đơn giản, và càng dễ phổ biến thì càng hữu dụng. Và cũng chính vì lý do đó sáng tạo càng hữu dụng lại càng cần được bảo vệ. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các sáng kiến nhỏ về lượng nhưng lớn về chất, tức là những sáng kiến mang tính cách mạng.

Cũng theo Lý Quang Diệu: “Chủ nghĩa cộng đồng sơ khai trong xã hội theo đạo Khổng của Trung Quốc từng biến thành tư tưởng gia đình trị - một hệ thống các mối quan hệ gia đình - và tham nhũng trên đại lục. Và tàn dư của những tệ nạn trong hệ thống nguyên thủy này vẫn còn thấy ở Đài Loan, Hồng Kông và thậm chí cả Singapore.

Đối với châu Á, tôi nghĩ trong một, hai hay có lẽ ba thế hệ nữa (với mỗi thế hệ kéo dài khoảng 20 năm), cần phải có những điều chỉnh nhất định. Như thế, 100 năm tới, tôi chắc chắn, người châu Âu, Đông Á và người Mỹ sẽ đi đến những giá trị và nguyên tắc phổ quát tương đồng.”

3. Lập nghiệp: Hăng hái tiến liều thì xấu. Dù bền lòng vì mọi người cũng vẫn khó khăn. Tính toán sắp đặt kế hoạch tới 3 lần mới xong. Được mọi người tin tưởng.

九三。征凶,貞厲,革言三就。有孚。Cửu tam: Chinh hung, trinh lệ, cách ngôn tam tựu, hữu phu.

Luận: Vào trước những năm 1990, người ta còn có thể định nghĩa kinh tế mới là một nền kinh tế kỹ trị, tức là lấy kỹ thuật hiện đại làm động lực thúc đẩy. Nhưng nay, bước vào thế kỷ 21 thì cần bổ sung: đó là một nền kinh tế được phát triển mạnh mẽ trong môi trường sáng tạo và tinh thần tiến thủ. Không dị ứng với cái mới, cái lạ. Bởi vì, thiếu cái mới cái lạ thì không còn là sáng tạo nữa.

Không còn một kịch bản vạch sẵn cho con đường phía trước. Và như vậy, cho dù công nghệ thông tin có quan trọng đến đâu đi chăng nữa, cho dù máy tính có thể tính hàng tỉ phép tính trong một giây thì điều khiển nó vẫn là con người. Cho nên, sáng tạo và linh hoạt trong tư duy và nhất là trong hành động phải là phẩm chất hàng đầu của những người đang sống trong giai đoạn khởi đầu của kỷ nguyên kinh tế tri thức.

Không phải nhà quản lý kinh doanh nào cũng là nhà sản xuất. Chỉ có những nhà kinh doanh dám đề xướng và thực hiện các hoạt động sáng tạo và xây dựng được những thương hiệu của mình mới là nhà sản xuất, còn không thì các hoạt động kinh doanh đó dù là hoạt động chế tạo cũng chỉ là gia công, không phải là sản xuất.

Những người thiếu học vấn thì không tự bảo vệ được sáng tạo của mình. Họ thường dễ bị tranh công khi báo cáo sáng kiến với cấp trên. Nhà phát minh không tránh khỏi có lúc phải mệt mỏi vì các vấn đề bảo vệ bản quyền hơn là bản thân việc phát minh hay sáng chế.

Cái cơ chế để bảo vệ quyền tác giả của sáng tạo chính là một động lực thúc đẩy sáng tạo. Không ý thức được tầm quan trọng của việc đăng ký và bảo vệ bản quyền phát minh sáng chế sẽ làm triệt tiêu động lực để phát minh và sáng chế cũng như việc đưa phát minh sáng chế vào ứng dụng trong sản xuất. Khi công ty coi trọng và xây dựng cơ chế bảo vệ sáng kiến cho công nhân của mình thì sáng sáng kiến sẽ đua nhau nở rộ.

Một nhà phát minh, sáng chế chuyên nghiệp không bao giờ công bố phát minh hay sáng chế của mình khi chưa có được giải pháp toàn diện để bảo vệ một cách hữu hiệu.

4. Chuyên nghiệp: Không còn hối hận. Người ta tin tưởng lắm. Thay đổi chương trình kế hoạch thì tốt.

九四。悔亡,有孚,改命,吉。Cửu tứ: Hối vong, hữu phu, cải mệnh, cát.

Luận: Bản thân vận dụng đã là sáng tạo. Vận dụng là giai đoạn phát triển lũy tiến. Vận dụng là sự vận động tự đưa mình lên vị trí tiên phong. Vận dụng là sự thăng hoa của tri thức, là biết cách biến những viên gạch của kiến thức nền tảng thành tòa nhà văn minh vật chất.

Trong khoa học có thể có các kết quả âm tính vì kết quả âm tính cũng là kết quả. Nhưng công nghệ thì khác, công nghệ chỉ chấp nhận các kỹ thuật chắc chắn. Công nghệ không chấp nhận kết quả âm tính. Đã làm là phải làm được. Không làm được thì tốt nhất là không làm để không hao tổn công sức, của cải, tiền bạc.

Trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay, các nghiên cứu triển khai R&D (Research & Development) đóng vai trò ngày càng quan trọng. R&D là quá trình chuyển hóa khoa học kỹ thuật thành công nghệ. Công nghệ bao giờ cũng phải đồng bộ. Nghiên cứu R&D là những nghiên cứu với mục tiêu hoàn tất công nghệ. Nghiên cứu R&D cho phép ráp nối những tiến bộ mới nhất của khoa học kỹ thuật cho phù hợp một cách đồng bộ với năng lực công nghệ hiện tại. Thiếu các nghiên cứu R&D, những tiến bộ mới nhất trong mọi lĩnh vực sẽ không đến được với sản xuất.

Đặc trưng của công nghệ là TÍNH ĐỒNG BỘ. Chỉ cần thiếu một kỹ thuật, nhiều khi có thể chỉ là một kỹ thuật xưa cũ, thì cũng có nghĩa là không có sản phẩm hoàn chỉnh, cho dù các kỹ thuật khác có thể mang tính kỹ thuật rất cao. Do đó khi xây dựng một dây chuyền công nghệ mới, bên cạnh những bằng sáng chế phải mua thuộc loại hi-tech, còn có những bí quyết công nghệ thuộc loại kinh điển có thể học được thông qua việc cử cán bộ công nhân đi thực tập, thì lại thường bị bỏ qua do không ý thức được tầm quan trọng, dẫn đến việc sản xuất không hiệu quả nhất là trong những năm đầu.


















Nghiên cứu triển khai không nhất thiết phải là đưa ra những sáng kiến. Trong nhiều trường hợp, nhiều công sức đã được tập trung vào việc nghiên cứu xem khách hàng muốn sử dụng các ứng dụng như thế nào và phát triển sản phẩm đáp ứng nhu cầu của họ để dễ bán. Trong nghiên cứu triển khai không nên quá coi trọng việc phát hiện những điều mới mẻ.

Những điều trình bày ở phần này còn đúng cho việc áp dụng khoa học xã hội vào thực tiễn.

5. Thành đạt: Bậc đại nhân có tài làm cho mọi việc thay cũ đổi mới như cọp thay lông. Chưa bói mà đã tin rồi.

九五。大人,虎變,未占有孚。Cửu ngũ: Đại nhân, hổ biến, vị chiêm hữu phu.

Luận: Sự tuyệt diệu của sáng tạo là ở chỗ nếu không nói ra thì chẳng ai biết đấy là cái gì, nhưng một khi đã được công bố thì ai cũng thấy được tính thiết thực và hữu dụng cực kỳ đơn giản của nó.

Sáng tạo về bản chất là một kỹ năng, kỹ năng đi thẳng vào thực chất. Và để có kỹ năng, điều thiết yếu là cần một quá trình rèn luyện cho kỹ năng ấy. Sáng tạo vì thế mang tính quá trình và đòi hỏi phải được hoàn thiện mỗi ngày.

Tạo đựng sự khác biệt trước các đối thủ là cách cạnh tranh mạnh mẽ nhất. Khi những chi tiết quan trọng nhất đang trong quá trình hoàn tất và chưa được đưa vào qua trình thực thi thì không thể bị lộ được. Bảo vệ bản quyền có một giới hạn nhất định về thời gian, sau đó thì phải cho mọi người bắt chước làm theo, nhưng sáng tạo thì khác, sáng tạo là phương pháp duy nhất đảm bảo cho vị trí thống trị của bạn trước bàn dân thiên hạ.

Khủng hoảng thực chất là sự trống vắng sáng tạo. Nói cách khác đó là sự mất cân bằng, sự không tương xứng giữa tri thức với sự thành đạt hiện có. Khủng hoảng khi đó có thể được hiểu giống như khi làm ra hai chiếc giày cho cùng một chân. Dù cho chất lượng những chiếc “giày” ấy có tốt đến mấy thì vẫn không cải thiện được tình thế. Chúng ta vẫn đang ở trong tình trạng thừa những chiếc giày nhưng lại thiếu những đôi giày để đi.

6. Liên kết: Người quân tử thay cũ đổi mới như con báo thay lông. Kẻ tiểu nhân thay đổi ngoài mặt. Tiến tới nữa thì nguy hiểm. Giữ bền đức thuần chính thì tốt.

上六。君子豹變,小人革面,征凶,居貞,吉。Thượng lục: Quân tử báo biến, tiểu nhân cách diện, chinh hung, cư trinh, cát.

Luận: Ngay khi vừa mới ra đời là đã bắt đầu quá trình già cũ, nên dòng sản phẩm đòi hỏi phải được cải tiến liên tục. Tuổi thọ trung bình của một sản phẩm ngày càng ngắn. Có thể chỉ là một năm, có thể chỉ là một mùa.

Sáng tạo là giải quyết bài toán khắc phục các mâu thuẫn, tìm ra khâu yếu nhất của hệ, thay đổi nó một chút theo hướng hoàn thiện hơn, như vậy sẽ làm tăng tính hiệu quả của cả hệ, và sự cải thiện chất lượng của cả hệ chính là sự tiến bộ của khâu yếu nhất của hệ.

Cải cách phải đồng bộ. Trường hợp cải tiến một khâu không phải là khâu yếu nhất của hệ thì cải tiến đó chưa thay đổi được hệ theo hướng hoàn thiện hơn bởi vì chất lượng của cả hệ vẫn bị yếu kém bởi khâu yếu nhất của hệ. Khi mà người ta vẫn thích làm những cái quen thuộc và không thích cái xa lạ. Và nếu cứ tiếp tục làm trong những lĩnh vực “thế mạnh” của mình mà không nhìn xung quanh xem thực chất nhu cầu xã hội là gì thì dù vẫn có cố gắng vẫn chỉ là “sáng tạo” ra cái cũ thôi. Vậy là chỉ có cải mà không có tiến. Cải cách như thế chỉ để cho có mà thôi.

Người quân tử giống như con tằm ăn lá dâu mà nhả ra tơ, tiểu nhân giống như loại tằm ăn lá dâu nhưng không nhả được tơ, nhả ra lại lá dâu.

Trong quản lý thì thiểu số phải phục tùng đa số, tuy nhiên điều cần lưu ý là trong sáng tạo thì không có chuyện thiểu số phải phục tùng đa số.

Kinh tế thị trường – xem quẻ Hỏa Phong Đỉnh – là lời giải cho công cuộc đấu tranh giải phóng sức sáng tạo của cá nhân trong đời sống xã hội.

Chân lý là cụ thể, vì thế, sự vĩ đại là ở các chi tiết.


Thứ bảy, ngày 31 tháng mười năm 2009

quẻ số 31- Trạch Sơn Hàm - Cơ Duyên Ứng Hợp





Sự cám dỗ,
tác phẩm được ưa thích,
nhà văn, nhà báo, ca sĩ, văn nghệ sĩ...
Mạng xã hội, blog, blogger...


Dịch: Quẻ Hàm, trai gái sinh tình, hanh thông, bền lòng thì lợi. Cưới vợ, tốt.

咸,亨,利貞,取女,吉。Hàm, hanh, lợi trinh, thú nữ, cát. Thú=thủ 娶=取 - chọn làm vợ.
Luận: Hàm là con trai con gái cảm nhau. Đạo cảm người phải chí thành, tự nhiên, không dùng trí tính toán, nhưng cũng không nên có tư ý, tư tâm. Tự Quái Truyện bảo: Có thiên địa sau mới có vạn vật, có vạn vật sau mới có nam nữ, có nam nữ sau mới có vợ chồng. Lại còn thêm: Đạo vợ chồng không thể không trường cửu.
Ba phần tư số người mà bạn gặp đều muốn người khác có cảm tình với mình, khao khát được thiên hạ hiểu mình. Một khi bạn làm cho họ vừa lòng thì họ sẽ sùng bái bạn. Lúc đó sự khác nhau của mỗi bên sẽ được đánh giá cao khi mọi người cố gắng làm việc cùng nhau trong sự tuỳ thuộc lẫn nhau và ghi nhận thiện chí cũng như nỗ lực của đối tác với mình.
Những kẻ không biết công nhận người khác đừng mong được người khác công nhận mình và càng không có hy vọng được người khác ủng hộ. Điều này đặc biệt quan trọng trong làm ăn chung. “Lời chào cao hơn mâm cỗ”. Không biết công nhận đóng góp của đối tác cho đúng thì sớm hay muộn mọi người sẽ bỏ đi hết.
Khi chỉ thấy hai giải pháp – Giải pháp của mình và giải pháp “SAI” – hãy cố gắng tìm một giải pháp hiệp đồng thứ ba. Với phương châm cùng có lợi hầu như khi nào cũng có một giải pháp thứ ba.
Sự hội nhập của một doanh nhân trong nền kinh tế cũng giống như chuyện nhân duyên giữa những con người. Tùy thuộc bên này, tùy thuộc bên kia, lại tùy thuộc cả những cơ may vận hội. Có khi hợp nhau mà không gặp được nhau. Gặp nhau hợp nhau nhưng lại không đợi được. Có khi là nhân duyên đơn phương, có khi là nhân duyên ép buộc.
Khi có duyên làm việc cùng nhau cũng giống như mắc một món nợ với nhau phải trả. Duyên là nợ. Nợ là nợ nghĩa. Nghĩa là nghĩa vụ nghĩa tình. Cho nên nghề của mình chọn nếu cơ duyên ứng hợp thì được xã hội coi trọng. Nhưng nếu kém may mắn vào thời mạt thì kiếm đủ sống cũng là may mắn rồi. Khi đã gắn bó với nghề hơn nửa cuộc đời thì không thể nói bỏ là có thể bỏ được.
Hoàn toàn không có một nghề nào có thể được xem là hay hay dở đối với tất cả mọi người. Chúng ta nên tránh thói quen đả kích, hay ngợi khen một một nghề đang thịnh nào đó theo dư luận, nhất là khi dư luận đó được khẳng định bởi những cây đa, cây đề trong xã hội. Một nghề được tất cả mọi người khen hay mà ta thấy dở rồi không thích cũng chẳng sao.
Làm ăn theo đúng nghĩa, không chỉ có ham mê hay thông tuệ là đủ, mà còn cần phải có cơ duyên nữa. Điều đó không có nghĩa là cái đầu của ta kém thông minh hơn thiên hạ, hay bàn tay ta không được nhạy cảm khéo léo như mọi người, mà chỉ có nghĩa là: đó không phải là nghề dành cho ta làm! Nói theo cách của người Đông Phương, có nghĩa là ta chưa có duyên với nghề đó nghiệp đó. Vậy thôi.
Khi cầm một cuốn sách nổi tiếng trên tay, mà bạn thấy không thể đọc nổi, thì cứ tạm gác nó qua một bên, đợi vào một thời gian phù hợp hãy đọc. Và nếu không bao giờ đọc được, thì cũng chẳng sao! Đọc sách là một công việc suốt đời. Khi cơ duyên ứng hợp thì nó sẽ là phương tiện đưa ta vào một thế giới diệu kỳ, ở đó ta tìm thấy lại, hoặc tái khám phá ra những điều lý thú nơi chính bản thân mình, trong những mối đồng cảm, trong những phút linh cầu, mà lắm phen trong cuộc sống xô bồ thường nhật che lấp mất đi.
Người ta sinh ra dưới bóng một ngôi sao và cầm tinh một con vật thiêng. Điều này là để cho vui vẻ nhưng cũng mang một thông điệp nhắn nhủ rằng: Nếu cầm tinh con mèo thì tất nhiên không thể kéo cày. Nếu cầm tinh con chuột thì không thể trông nhà... Bạn phải biết bạn giỏi gì để chọn nghề nghiệp cho phù hợp với năng lực bản thân. Nói khác đi, bạn phải biết bạn là ai và bạn muốn gì.
Có điều, không phải tất cả những người sinh cùng ngày cùng giờ cùng tháng cùng năm sẽ có cùng tính khí và làm cùng một nghề giống nhau. Nếu cứ hiểu như thế thì quá ư đơn giản và đúng là mê tín thật rồi.

Lời tượng: Trên núi có ao hồ là hình tượng của quẻ Hàm. Người quân tử mở lòng để dung nạp mọi người. 象曰:山上有澤,咸, 君子以虛受人. Tượng viết: Sơn thượng hữu trạch, hàm, quân tử dĩ hư thụ nhân. Hư 虛– trống, rỗng. Thụ 受– chấp nhận.
Luận: Mỗi người trong chúng ta bẩm sinh có những tài năng riêng nhất định và khác biệt giữa người này và người kia. Khoa học hiện đại xây dựng phép đo để xác định và ghi nhận ở dạng các chỉ số quotient.
Intelligence Quotient - IQ - là chỉ số thông minh hay còn gọi là TRÍ LỰC thông dụng nhất khi đánh giá năng lực tài trí cá nhân. TRÍ LỰC được đo bằng trí nhớ, tính nhạy bén trong khi trả lời các câu hỏi trắc nghiệm, toán học, cách sử dụng ngôn ngữ và những kiến thức khoa học.
Emotional quotient - EQ - là chỉ số cảm súc hay còn gọi là TÂM LỰC đánh giá năng lực thấu hiểu và truyền cảm của một người với môi trường xã hội xung quanh. Người có TÂM LỰC tốt thường biết cách làm việc hài hòa trong mối quan hệ với những người xung quanh mình. Điều này đặc biệt quan trọng trong môi trường lao động tập thể team work hiện nay của các công ty.
Health Quotient - HQ - là SỨC KHỎE một tố chất cực kỳ quan trọng khi muốn làm được một việc gì đó đến cùng. Khi áp lực công việc ngày càng tăng thì sức khỏe là thứ không thể thiếu bảo đảm cho mọi thành tích cá nhân. Muốn làm nhưng không đủ sức khỏe để theo đuổi thì mọi chuyện chỉ còn là mơ ước.
Leadership Quotient - LQ - là năng lực LÃNH ĐẠO. Muốn lãnh đạo được thiên hạ thì trước tiên phải vì mọi người. Khi biết cách dẫn dắt mọi người theo con đường đi đến thịnh vượng và thành đạt mà mọi người cứ tưởng rằng tự họ nghĩ ra thì đấy chính là năng lực LÃNH ĐẠO.

Chiêm: ♦ Quẻ này không có hào nào tốt và cũng không có hào nào không xấu. ♦ Một bàn tay trên trời – Dù bạn không bao giờ mơ ườc nhưng sẽ có người giúp bạn một tay. ♦ Một đống tiền và châu báu – Sự giàu sang. ♦ Một ông quan đứng trên đỉnh núi – Sự bận rộn cả chính trị lẫn quân sự. ♦ Người đàn bà leo núi – Phu xướng phụ tùy. ♦ Chiếc hộp nhỏ – sự hợp tác ăn khớp. ♦ Bây giờ là lúc sắp xếp làm đám cưới của bạn. ♦ Quẻ tháng giêng, tốt về mùa xuân, xấu về mùa thu.

Hình: Núi và đầm thông nhau. 山澤通氣. Sơn trạch thông khí.

Tượng: Thành kính hết lòng cảm được quỷ thần. 至成感神. Chí thành cảm thần.

HÀO TỪ

1 . Học & tập: Cảm ứng ở ngón chân cái.
初六。咸其拇。Sơ lục: Hàm kỳ mẫu.
Luận: Có duyên thì mới gặp nhau. Không biết đến nhau thì làm sao có thể nói đến hợp tác làm ăn được.
Một nghề nghiệp có thể bây giờ ta được học mà không thấy hay, nhưng vài năm sau, thậm chí vài mươi năm sau, ta mới cảm thấy hết được cái giá trị diệu huyền của nó. Ngược lại, cũng có những nghề mới học thì thấy tuyệt vời, nhưng vài năm, hoặc có khi chỉ vài tháng sau, đã thấy không còn muốn làm nữa.
Một nghề nghiệp muốn tồn tại được cùng thời gian phải là nghề nghiệp giải quyết được những vấn đề muôn thuở, những khía cạnh thường nhật của cuộc sống, thỏa mãn được những nhu cầu thâm sâu nhất trong đời sống xã hội.
Không quá đòi hỏi cho cái tôi của mình trong việc phân tích và giải quyết các công việc chung, khi sự tham gia của cá nhân càng chính đáng, càng chân thành, càng bền bỉ thì tính sáng tạo của mỗi người càng được giải phóng, sự ràng buộc với những cái sáng tạo được càng lớn.
Tiếng sét ái tình.

2 . Lập thân: Cảm ứng ở bắp chân. Rất xấu. Ở yên thì tốt.
六二。咸其腓,凶,居吉。Lục nhị: Hàm kỳ phì, hung, cư cát.
Luận: Có làm ăn đụng chạm với nhau trên trương trường mới biết đến nhau. Có biết đến nhau thì mới có cơ hội để hợp tác làm ăn với nhau. “Thương trường là chiến trường”, nhưng thương trường khác chiến trường rất căn bản. Để làm việc được với nhau phải có “nhân duyên”.
Hiệp đồng trước tiên phải bắt nguồn từ trong thâm tâm ngay cả giữa một môi trường rất đối địch. Tôn trọng và không được xúc phạm đến nhân phẩm cá nhân. Khéo léo né tránh những sức mạnh tiêu cực. Tìm ra cái đúng của đối tác và sử dụng cái đúng đó theo cách có lợi nhất, tôn trọng sự khác biệt để nâng cao quan điểm và mở rộng tầm nhìn của mình.
Dở nhất là nghĩ xấu về người khác. Khi nghĩ xấu, có thể là bạn cố gắng không biểu hiện thái độ khinh miệt hay chê bai, nhưng ngôn từ dù sao cũng sẽ phản ánh một sắc độ nhất định tư duy của bạn, không dấu được. Nghĩ xấu là biểu hiện của sự không công nhận ngầm mà thực chất có thể là sự ghen tị.
Cãi nhau cũng vẫn có duyên với nhau. Chẳng phải các cụ đã bảo: “ghét của nào trời trao của ấy” đấy sao.

3. Lập nghiệp: Cảm ứng ở đùi. Cứ mãi đi theo người khác sẽ bị lỗi.
九三。咸其股,執其隨,往吝。Cửu tam: Hàm kỳ cổ, chấp kỳ tùy, vãng lẫn.
Luận: Muốn làm ăn với nhau thì phải có cảm tình với nhau. Nhưng mình muốn thôi thì chưa đủ. Vấn đề là đối tác có nhu cầu hợp tác với mình hay không. Chỉ khi nhu cầu được xuất phát từ hai phía, cùng có lợi, thì sự hợp tác mới bền vững.
Công nhận không có nghĩa là chiều chuộng vô lối. Công nhận cũng không có nghĩa là bằng mặt mà không bằng lòng. Những người lấy chiều chuộng làm phương châm xử thế với đối tác đến một ngày sẽ không thể chịu đựng rồi dẫn đến trở mặt. Những quan hệ không thẳng thắn và không thực lòng, nhẫn nhịn quá đáng dễ dẫn đến xung đột và bạo lực.
Biết công nhận đối tác là biểu hiện của thái độ khiêm tốn và kính trọng của bản thân ta với đối tác - tức là đã thoả mãn nhu cầu được hiểu của đối tác – và bằng cách chia sẻ như vậy đã truyền đến cho đối tác một không khí tâm lý, thổi một động lực vào công việc. Vui thì vui hơn, buồn thì bớt buồn.
Tình yêu đơn phương khó tạo nên hôn nhân bền vững.

4. Chuyên nghiệp: Bền lòng thì tốt. Không còn buồn bã. Qua lại sòng phẳng với bạn bè, bạn bè nghe theo ý mình.
九四。貞吉,悔亡,憧憧往來,朋從爾思. Cửu tứ: Trinh cát, hối vong, đồng đồng vãng lai, bằng tòng nhĩ tư.
Luận: Không thể vỗ tay chỉ bằng một tay. Sự hợp tác phải đến từ hai phía thì mới bền vững. Thiên hạ có quân tử thì cũng có tiểu nhân, có người người trông xa thì cũng có kẻ nhìn gần, có giới chủ thì cũng cần kẻ làm công. Và cũng bởi đức chúa trời không đến được với mỗi người nên đã sinh ra người đàn ông và người đàn bà để họ yêu thương và chăm sóc cho nhau để cùng nuôi dạy con cái.
Làm ăn là một “cuộc chiến” mà các bên đều được hưởng lợi, tức là cùng có lợi. Làm ăn trên thương trường là quá trình hiệp đồng hai chiều mà các bên đều thắng, không có bên nào thua cả. Trong làm ăn chỉ có đối tác, không có đối đầu.
Nói cho cùng trong xã hội ai cũng cần ai cả. Còn thái độ của mọi người đối với ta cũng giống như hình ảnh của ta trong gương. Một nụ cười thân thiện, một thái độ nghiêm túc, chân thật hay giả dối sẽ được đáp lại với một cái cách gần đúng như thế. Thái độ mọi người đối với ta là hình ảnh cái TÂM của chính ta qua mặt gương.
Khi biết công nhận lẫn nhau thì khen ngợi là biểu hiện cao nhất. Khen ngợi chỉ có giá trị động viên khi khen thực lòng. Cấp trên không biết khen làm mất đi lòng nhiệt tình của cấp dưới. Không biết đánh giá giá trị đóng góp của đối tác thì hợp tác không bền vững. Khi cùng ngang cấp mà khen, bạn đã tự nâng mình lên một bậc. Khi cùng chia sẻ những khó khăn với cấp trên, bạn đã tự nâng mình lên ngang với tầm cỡ cấp trên của bạn.

5. Thành đạt: Cảm ứng ở lưng. Không hối hận.
九五。咸其脢,旡悔。Cửu ngũ: Hàm kỳ mỗi, vô hối.
Luận: Nghe thấu hiểu không chỉ nghe bằng tai,.quan trọng hơn là còn phải biết nghe bằng mắt, nghe bằng con tim. Nghe, thấy và đồng thời cảm nhận được.
Bạn phải hiểu bạn. Không thể ép con trâu giữ nhà và bắt con chó kéo cày được. Ép dầu ép mỡ đâu nỡ ép duyên, bạn càng cố gắng tự ép mình theo những nghề thời thượng bạn sẽ càng tuyệt vọng. Có những thứ dù thích bạn cũng không thể chiều được.
Không có cạnh tranh tuyệt đối và cũng không có liên kết tuyệt đối. Trong liên kết luôn có cạnh tranh và trong cạnh tranh luôn có liên kết. Thắng thắng là tư tưởng mang tính chiến lược có nghĩa là cả hai bên cùng thắng.
Nếu chỉ nghĩ đến quyền lợi mà không nghĩ đến trách nhiệm thì mọi công cuộc hợp tác làm ăn đều tan vỡ. Cũng giống như tình yêu đâu đơn thuần chỉ là vui sướng mà còn là trách nhiệm. Trong các trách nhiệm thì nuôi dạy con cái là nặng nề nhưng cũng là hạnh phúc nhất.
Cây to lớn thì rễ phải ăn sâu. Rễ càng sâu thì càng chịu được hạn hán nặng.

6. Liên kết: Cảm ứng ở mép, gò má và lưỡi.
上六。咸其輔,頰,舌。Thượng lục: Hàm kỳ phụ, giáp, thiệt.
Luận: Trên thực tế, các chuyên gia về giao tiếp đánh giá rằng: Những gì chúng ta lĩnh hội được do giao tiếp 55% là ngôn ngữ của điệu bộ, do vẻ mặt và giọng nói mang lại, chỉ 7% thông tin được thể hiện qua từ ngữ.
“Khẩu khai thần khí tán”. Nghe là được, nói là mất. Nhường lời là để nghe và biết cách nghe, dù rằng công việc bạn đang làm là tiếp thị, là thuyết phục người mua. Có thể là vì: “Người ta sinh ra với hai tai, hai mắt và chỉ một cái miệng, cho nên phải nghe hai, thấy hai nhưng chỉ nói một thôi.”
Văn không xứng với chất cho nên mới có chuyện “ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa”. Hứa thì nhiều nhưng hứa cho có nên “trăm voi không được bát nước xáo”.




Từ Vô Cực đến Thái Cực

Vũ trụ được người xưa quan niệm như một thái cực, thái cực có 2 nguồn năng lượng âm dương – lưỡng nghi – cọ sát nhau, đun đẩy nhau, biến biến hóa hóa thành tứ tượng, tứ tượng hóa hóa sinh sinh thành tám dạng thức – gọi là tám quẻ đơn hay tám kinh quái = bát quái.

Có 4 vị thánh triết góp công tạo ra Kinh Dịch như ta thấy ngày nay. Phục Hy sáng tạo ra trùng quái. Văn vương, vị vua sáng lập ra nhà Chu, giải nghĩa 64 trùng quái bằng những bài ngắn súc tích, ý nghĩa chính xác, gọi là Thoán Từ. Con Văn Vương là Chu Công thêm lời giải thích ý nghĩa đến từng hào gọi là Hào Từ. Cuối cùng Khổng Tử nghiên cứu lâu dài và viết lời tổng bình về triết lý và các đặc điểm của 64 trùng quái. Phần này đời sau gọi là Truyện hay Thập Dực.

Hiển hiện trong Kinh Dịch vũ trụ, gia đình hay xã hội từ chỗ mông lung vô định tiến đến việc hình thành các lực hay các lực lượng chi phối hoạt động, từ vô thức đến chỗ có ý thức trong hành động, tức là tiến dần từ Vô Cực đến Thái Cực.

Xét theo bản chất logích triển khai từ khái niệm Lưỡng Nghi đến Tứ Tượng – Bát Quái – Trùng Quái thì đó chính là kết quả của quá trình nhận thức duy lý phân đôi cái thống nhất thành các mặt đối lập tương ứng và xây dựng mô hình có khả năng biểu đạt sự tái tổ hợp – tái kết hợp lại giữa các mặt tương ứng đó, từ đây xác định được các giá trị diễn đạt của mô hình đối với vũ trụ và nhân sinh ở tầm khái quát cao nhất.

Nói một cách khác, Lưỡng Nghi là khái niệm mô phỏng những cực tương ứng trái chiều, hay còn gọi là các mặt đối lập của một thể thống nhất vũ trụ, xã hội và nhân sinh, hay mọi tồn tại của vũ trụ, xã hội và trong mỗi cơ thể của một con người. Những cực ấy được gọi là Âm và Dương. Âm và Dương giao hòa trong một thể thống nhất.

Khái niệm Tứ Tượng là hệ quả của việc áp dụng tư duy cho phép phân ly tiếp tục Âm và Dương thành các đối lập hay hai khả năng có thể, đều đúng đắn tương đương nhau, cho sự phát triển. Các tư tưởng gia của Kinh Dịch qọi tứ tượng bằng bốn thuật ngữ: Thái Dương = quan hệ tự nhiên, Thiếu Âm = đối ngoại, Thiếu Dương = đối nội, Thái Âm = quan hệ xã hội.

Hệ quả tất nhiên tiếp theo của sự phân ly Tứ Tượng thành những đối lập mới Bát Quái 八卦 là những Quái cơ bản được dùng để sắp xếp phân loại tính đa dạng của vạn sự việc, vạn sự vật và muôn loài trong vũ trụ, trong sinh giới, trong xã hội và cả trong tiểu vũ trụ là cơ thể của mỗi con người.

Càn và Khôn


Ngôn ngữ của Dịch chỉ có hai ký tự: một hào âm -- và một hào dương – . Đó là hai ký hiệu biểu trưng cho hai năng lực đối lập trong vũ trụ phối hợp với nhau tạo nên vận động của vũ trụ.

Dịch học có sáng kiến phối hợp hai quan niệm đó, mang âm dương ám chỉ Càn Khôn = Trời Đất. Rồi sau phối hợp thêm quan niệm đạo của Lão Tử mà lập nên một thuyết về vũ trụ rất giống với thuyết của Lão nhưng thực tiễn hơn, chú trọng đến xã hội hơn vì nhấn mạnh về âm dương, về giống đực giống cái, trai gái, về sự sinh sinh hóa hóa hơn.

Dịch coi đạo âm dương, đạo nam nữ là quan trọng nhất, là nguyên mẫu cho quan niệm âm dương trong Dịch học. Có nam có nữ rồi mới thành vợ chồng, có cha con, vua tôi, có lễ nghĩa. Nam nữ là gốc của gia đình, xã hội, gốc của đạo lý, mà đạo nam nữ cũng lớn như đạo Càn Khôn.

Hệ từ thượng truyện (trích)
4. Càn là nguyên mẫu cho người nam. Khôn là nguyên mẫu cho người nữ.
乾道成男,坤道成女. Kiền đạo thành nam. Khôn đạo thành nữ.

5. Càn nắm nguyên lý gốc. Khôn tạo ra vật chất.
乾知太始,坤作成物. Kiền tri thái thủy, khôn tác thành vật.

6. Cách nghĩ của Càn dễ hiểu, cách làm của Khôn đơn giản.
乾以易知,坤以簡能. Kiền dĩ dị tri, khôn dĩ giản năng. Chữ dị, giản dị dễ hiểu, trong dị tri 易知 là cùng một chữ với chữ dịch của Kinh Dịch 易經.

7. Dễ nên dễ hiểu. Đơn giản nên dễ theo.
Dễ hiểu nên gần gũi, dễ làm nên hiệu quả.
Gần gũi nên vững bền, hiệu quả nên làm được việc lớn.
Vững bền là đức của người hiền, làm việc lớn là sự nghiệp của người hiền.
易則易知.簡,則易從.易知,則有親,易從則有功.有親則可久,有功則可大.可久則賢人之德,可大則賢人之業. Dị, tắc dị tri. Giản, tắc giản tòng. Dị tri, tắc hữu thân, dị tòng tắc hữu công. Hữu thân tắc khả cửu, hữu công tắc khả đại.

8. Có đơn giản dễ dàng mới thấu tình đạt lý cùng mọi người. Có thấu tình đạt lý mới giữ được chỗ đứng trong lòng mọi người.
易簡,而天下之理得矣.天下之理得,而成位乎其中矣. Dị giản, nhi thiên hạ chi lý đắc hỹ. Thiên hạ chi lý đắc, nhi thành vị hồ kỳ trung hỹ.

Thứ tư, ngày 21 tháng mười năm 2009

Tìm lại thông điệp của người xưa


Người đời thường coi Kinh Dịch 易經 là một cuốn sách bói Chiêm bốc chi thư 占卜之書. Chu Dịch đã ghi nhận và bảo tồn được phong cách tư duy nguyên thủy của nhân loại mà thời gian qua đi đã phủ lên một màn sương làm cho phong cách tư duy dựa trên lý tính bị trộn lẫn với chủ nghĩa thần bí.

Rồi cùng với thời gian ý nghĩa nguyên thủy dần dần thất tán có khi không ai hiểu được gì nữa, hậu nhân dần dần bổ xung, phức tạp hóa, phát triển thêm thành nhiều hào. Đó cũng là quá trình hình thành tác phẩm kinh dịch mà đặc trưng ngay từ đầu của nó là một đề cương rõ nét về một phương pháp tiếp cận đầy duy lý đối với một vũ trụ sinh động và hài hòa. Kinh Dịch nhờ đó đã khai thác một cách có hiệu quả các lớp trầm tích tri thức tích lũy từ nhiều đời của trí tuệ dân gian.

Nếu chúng ta không cho rằng việc Phục Hy, Văn Vương, Chu Công và Khổng Tử là những tác giả tạo ra Kinh Dịch là một sự kiện lịch sử xác thực thì chúng ta vẫn có thể tìm thấy trong đó một ý nghĩa biểu trưng mang tính mô phỏng về tiến trình hình thành nên cuốn thiên cổ kỳ thư này.

Trong quyển kỳ thư hầu như không hề đề cập đến việc tế tự cầu đảo, đây là việc kỳ lạ vì đa số trong chúng ta đều thống nhất đây là một cuốn sách bói toán nên không bị Tần Thủy Hoàng Đế cho tiêu hủy.

Nhân vật nổi bật trong Kinh Dịch là người Quân Tử. Có những định nghĩa khác nhau thế nào là người Quân Tử. Quân 君 là quân vương là nhà vua. Nếu hiểu rằng Tử 子 là con, giống như Thiên Tử 天子 là con của ông trời = ông trời con, thì Quân Tử là con vua = ông vua con. Thiên Tử tự cho mình cái quyền uy thay trời hành đạo thì người Quân Tử cũng tự cho mình cái quyền uy thay vua làm việc nước. Và như vậy Quân Tử được hiểu là người-nắm-quyền hay người-có-quyền hay nhà-cầm-quyền.

Tuy Trung Hoa gồm mười mấy nước, nhưng nước nào cũng là “đất” của nhà Chu cả. Trên nguyên tắc, người nước nào dù là Tề, Sở, Lỗ, Tần, Ngô, Việt… cũng là con dân của thiên tử nhà Chu cả. Vì vậy một người tài giỏi không được dùng ở nước mình, qua thờ một nước khác, không phải là phản quốc. Còn dân chúng nếu trong nước loạn lạc thì trốn qua nước khác ở, đi lính cho nước này mà chống cự lại quê hương mình. Chuyện đào ngũ hàng loạt để qua phía đối phương là chuyện thường. Do đó, vua chúa nước nào cũng mong có được nhiều dân, mong cho được cận giả duyệt, viễn giả lai 近贾悅,遠贾來 người ở gần vui lòng, người ở xa quy phục.

Nhìn lại doanh nhân trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay chúng ta dễ dàng thấy lại một hình ảnh tương tự ở những vương quốc cổ. Việc một công ty xuyên quốc gia quyết định đặt đại bản doanh tại nước mình hay nước ngoài cũng không bị quy chụp là không yêu nước. Rồi một giám đốc giỏi muốn về đầu quân công ty nào và kéo toàn bộ “quân” theo là chuyện thường ngày và chẳng ai có ý lên án là không trung thành. Một lần nữa tư tưởng cận giả duyệt, viễn giả lai vẫn có đất đứng vững cho dù thời thế đã bao thay đổi. Trong nền kinh tế thị trường không một ai trong chúng ta được mất cảnh giác, lơi lỏng, buông thả với mình và nhất là với-người-của-mình.

Nhìn lại bối cảnh ra đời của Kinh Dịch sẽ thấy Văn Vương là một nguyên mẫu mô tả người quân tử khi ở vào thế dưới quyền kẻ xấu. Bị vua trụ nghi ngờ, giam vào ngục Dữu Lý, bề ngoài tỏ vẻ nhu thuận, không chống đối vua Trụ, mà để hết tâm trí vào việc viết thoán từ giảng các quẻ trong Kinh Dịch đang được lưu truyền. Nhờ vậy vua Trụ không có cớ để giết, sau thả ông ra.

Đọc quẻ Minh Di 明夷 – có nghĩa đen là ánh sáng bị thương tổn, cho phép ta hiểu nghĩa của cả quẻ là cách hành xử của người quân tử khi ở Dưới quyền Kẻ xấu. Cần phải hiểu bối cảnh lịch sử tại sao Văn Vương không thể viết rõ ràng tên quẻ ra là quẻ Dưới quyền Kẻ xấu mà lại chọn quẻ là Minh Di để chuyển thông điệp cho ta ngầm hiểu nghĩa của quẻ là Dưới quyền Kẻ xấu và trên thực tế là Trụ Vương đã không phát hiện ra được. Đại tượng truyện bảo “người quân tử gặp thời Minh Di, muốn thống ngự quần chúng thì nên dùng cách kín đáo mà lại thấy được rõ, nghĩa là dùng cách làm ngơ cho kẻ xấu, đừng rạch ròi nghiêm khắc quá mà sẽ bị hại. Tóm lại là làm bộ như không biết để chúng không nghi ngờ mình và để lộ hết dụng tâm của chúng ra cho mình biết được.”

Để chuyển tải thông điệp cho đời sau những điều tâm huyết nằm đằng sau chữ và nghĩa, quan trọng là đòi hỏi cả người viết và người đọc phải có Cơ duyên Ứng hợp như trong quẻ Hàm 咸. Bản thân việc viết cả một cuốn kỳ thư ngay trước mắt Trụ Vương sao cho Trụ Vương không thấy, những kẻ theo Trụ Vương cũng không thấy trong đó những điều ám chỉ chống đối thì đó đã là một sự diệu kỳ rồi.

Vì thế cho nên, Chu Dịch có thể được xem như là một cuốn cẩm nang chính trị nhưng lại giấu mình dưới hình thức của lời lẽ vô nhân xưng bí hiểm của vu thuật chiêm bốc, nhưng thực ra được sáng tác để giáo huấn những bậc quân vương về phương pháp an dân trị quốc. Mỗi quẻ là một thông điệp thật rõ ràng khúc triết gửi tới cuộc sống. Tên mỗi quẻ dùng để chỉ một tình huống cụ thể bắt buộc phải đối mặt, không tránh né được. Việc sắp xếp và thay đổi thứ tự các quẻ trong quá trình hình thành và hoàn thiện Kinh Dịch được làm giống như la chiêm nghiệm và đúc kết lý luận từ cuộc sống.

Khổng Tử nói: “Tiểu nhân và đàn bà thì không dạy được”. Không thể đòi hỏi người phụ nữ trong gia đình cũng gánh vác công việc của người chồng người cha. Trong một xã hoi hiện đại không thể kêu gọi dân chúng thông cảm mãi cho sự yếu kém của bộ máy công quyền. Cũng có nghĩa là không thể bắt ép một kẻ tiểu nhân học và hiểu lý lẽ dành cho người quân tử được. Người nào việc nấy. Tiểu nhân không muốn hiểu và không cần phải hiểu cái khó của người quân tử khi ở vị trí minh chủ.

Để chúng ta có thể hiểu một khái niệm Dịch dùng một thí-dụ-mẫu điển-hình cụ thể để diễn đạt. Tiếp cận với phong cách nghiên cứu khoa học xã hội Âu Mỹ, lần đầu tiên đọc những bảng câu hỏi, định nghĩa hay hướng dẫn rất cụ thể và đi vào chi tiết kiểu tình huống vấn đề bạn sẽ vô cùng phấn khích khi chợt phát hiện sự tương đồng khi trong cach trình bày của mỗi quẻ Trùng Quái có Thoán Từ giống nhau một cách kỳ diệu với những thí-dụ-mẫu điển-hình Case Study trong các giáo trình giảng dạy & nghiên cứu hiện đại. Sự cụ thể đáng kinh ngạc của lời Hào Từ và được chọn lọc đúng 6 câu phù hợp với 6 tình huống vấn đề có thể gặp trong thực tiễn cuộc sống.

Dịch dùng quẻ Quy Muội 歸 妹 em gái về nhà chồng để mô tả sự Hội nhập. Trong nền kinh tế toàn cầu ngày nay Hội nhập là xu hướng của thời đại. Quy Muội là tình thế của người quân tử hiểu được rằng không thể sống cách ly với cả thế giới nên cầu được hội nhập, được tham gia cuộc chơi với các đối tác hùng mạnh trong một thế giới mở. Dịch chỉ khuyên là khi đi ra với thế giới thì phải khiêm tốn như người con gái về nhà chồng. Dù mình có giỏi đến mấy cũng phải học lại từ đầu. Hào 5 còn nói rõ hơn: vua Đế Ất gả em gái, áo công chúa không đẹp bằng áo nàng hầu Đế Ất quy muội, kỳ quân chi duệ, bất như kỳ đệ chi duệ lương 帝乙歸妹,其君之袂, 不如其娣之袂良. Dịch đã chọn cách phát biểu các nguyên lý thông qua cái cụ thể. Là nguyên lý thì phải khái quát, tức là trong cái cụ thể có sự khái quát, khai quát mà lại dựa trên cái cụ thể.

Liệu có phải mỗi quẻ trong 64 quẻ Dịch là tượng trưng cho một tình huống điển lệ chăng? Chúng ta có thể tin tưởng vào trực giác của Văn Vương và Chu Công đã được lịch sử 3000 năm minh chứng. Khi bói một quẻ dịch, chúng ta sẽ nhận ra sự chính xác cực kỳ của lời chiêm đoán, nếu câu hỏi khấn là thích đáng, tâm trạng người xem bói thích đáng, nghi lễ diễn ra thích đáng.

Kinh Dịch nguyên thủy không có chấm câu. Bản thân người xưa có một cách hiểu rất mộc mạc mà xuyên suốt không phụ thuộc vào vị trí chấm câu và luôn hiểu một cách nhất quán gần như nhau. Đến năm 1566, Alde Manuce le Jeune người Ý mới đưa ra định nghĩa chính xác dấu chấm câu. Cách chấm câu trong Kinh Dịch ngày nay là do người đời sau tùy ý mình mà đưa dấu chấm dấu phẩy vào. Nhiều bản Dịch khác nhau xem trọng cái cách chấm câu khác nhau đem đến những cách hiểu khác biệt chút ít. Và chúng ta cũng chẳng nên quá câu nệ làm gì.

Phải ý thức thật rõ ràng rằng việc bói toán rất nguy hiểm. Dường như luật lệ phật giáo đã có lý khi cấm tăng ni làm chuyện bói toán. Một khi tin chuyện bói toán, ta dễ mặc nhiên phủ nhận tư duy và kinh nghiệm cá nhân, thậm chí còn thủ tiêu luôn ý chí phấn đấu của bản thân nữa. Một sự thật ít người chịu thú nhận: Tâm lý con người rất yếu đuối. Cái tâm lý dễ bị ám đó là một môi trương dẫn đến mất ăn mất ngủ, lầm lạc, đoạn trường. Cả tin vào số mệnh, ký thác đời mình vào những lời chiêm đoán vu vơ thật là đáng thương vô cùng.

Người sử dụng Kinh Dịch đúng đắn không bao giờ phục vụ tư lợi của mình. Phải sử dụng Kinh Dịch cho mình và cho mọi người. Dùng Kinh Dịch để trục lợi là xa rời chức năng thiêng liêng của Kinh Dịch. Thật là một sự báng bổ Kinh Dịch nếu người ta dùng Kinh Dịch vào những chuyện tầm phào, tệ hơn nữa là dùng Kinh Dịch để cầu danh tranh lợi một cách vị kỷ. Kinh Dịch sẽ không còn linh nghiệm nữa khi nếu bị dùng cho những việc bất chính.

Tuân Tử 荀子 từng nói: thiện dịch giả bất chiêm 善易者不占 người hiểu Dịch sẽ chẳng cần coi bói nữa. Mục đích đúng đắn của Kinh Dịch là giúp con người xóa đi tư ý, tự làm chủ lấy bản thân nhằm mục đích phục vụ chính nghĩa. Đó cũng ngụ ý trừ khử tham lam dục vọng, tránh cầu danh tranh lợi, thuận theo Đạo và đạt tới Đức của thánh nhân, mà niềm hạnh phúc tột cùng là hành thiện phục vụ nhân sinh.